Xử lý nước giếng khoan nhiễm sắt

Trong nước thiên nhiên sắt tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Trong nước mặt sắt tồn tại ở dạng ion sắt hóa trị III hoặc dưới dạng các phức chất sắt, các hợp chất hữu cơ và vô cơ của sắt ở thể keo và hạt lơ lửng.

Trong nước giếng khoan do đặc điểm ở sâu trong lòng đất yếm khí nên sắt thường tồn tại ở dạng ion sắt hóa trị II trong thành phần của các muối hòa tan như bicacbonat, sunfat, clorua…

Dấu hiệu nước giếng khoan nhiễm sắt

Khi trong nước có hàm lượng sắt cao nước có vị tanh, tùy thuộc vào hàm lượng sắt mà khi mới bơm lên có thể trong hoặc vàng. Càng để lâu trong không khí nước xuất hiện các cặn bẩn màu vàng, nâu đỏ.

Lọc nước giếng khoan nhiễm sắt

Khử sắt bằng oxy hóa

Nguyên lý của phương pháp này là oxy hóa sắt II thành sắt III và tách chúng ra khỏi nước dưới dạng hydroxit sắt III. Sắt III hydroxit trong nước nhanh chóng kết tủa thành bông cặn màu vàng và có thể tách ra khỏi nước một cách dễ dạng nhờ quá trình lắng và lọc.

Do nước ngầm thường không chứa oxy hòa tan hoặc có hàm lượng oxy hòa tan rất thấp. Để tăng nồng độ oxy hòa tan trong nước ngầm biện pháp đơn giản và được sử dụng phổ biến nhất là làm thoáng. Hiệu quả của quá trình làm thoáng được xác định theo nhu cầu oxy cho quá trình khử sắt.

2 phương pháp làm thoáng phổ biến là làm thoáng bằng giàn mưa tự nhiên và làm thoáng cưỡng bức.

Làm thoáng bằng giàn mưa tự nhiên thường được áp dụng tại các gia đình sử dụng bể lọc nước giếng khoan. Tuy nhiên nó chỉ phù hợp với nước nhiễm sắt ít, với nước giếng khoan mà hàm lượng sắt ở nồng độ cao tốt nhất sử dụng phương pháp làm thoáng cưỡng bức.

Hệ thống  lọc nước giếng khoan công suất nhỏ có thể sử dụng ejector, trộn nước với không khí trực tiếp. Thiết bị công suất lớn sử dụng tháp làm thoáng cao tải.

Khử sắt bằng hóa chất

Khi trong nước nguồn có hàm lượng tạp chất hữu cơ cao, các chất hữu cơ sẽ tạo ra dạng keo bảo vệ các ion sắt, như vậy muốn khử sắt phải phá vỡ được màng hữu cơ bảo vệ bằng tác dụng của các chất oxy hóa mạnh. Đối với nước ngầm khi hàm lượng sắt quá cao đồng thời tồn tại cả H2S thì lượng oxy thu được nhờ làm thoáng không đủ để oxy hóa  hết H2S và sắt, trong trường hợp này cần dùng đến hóa chất để khử sắt

+ Khử sắt trong nước bằng vôi

Phương pháp này có thể áp dụng cho cả nước mặt và nước ngầm. Nhược điểm các phương pháp này là phải dùng đến các thiết bị pha chế cồng kềnh, phức tạp nên thường kết hợp khử sắt với quá trình xử lý khác như xử lý ổn định nước bằng kiềm hóa, làm mềm nước bằng vôi kết hợp với soda.

Khử sắt bằng clo

Clo là chất oxy hóa mạnh nên hiệu quả khử sắt cao, tuy nhiên khi nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt ăn uống cần thiết tiến hành khử clo sau khử sắt bằng clo. Đồng thời với khử sắt bằng clo các chất hữu cơ cũng được loại bỏ khỏi nước, do đó liều lượng clo cần thiết phụ thuộc vào hàm lượng các chất hữu cơ có trong nước

+ Khử sắt bằng kali permanganat

loc nuoc gieng khoan